Giới thiệu > Trang tin Thành tựu
 
 
 
 
Thành tựu đã đạt được
Ngày đăng: 23/04/2014       Số lượt xem: 25200       Người đăng: admin
 

Viện là tổ chức nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về khoa học cây trồng và một phần chăn nuôi, triển khai nghiên cứu từ cơ bản đến ứng dụng. Thành tựu của Viện trong thời gian qua rất phong phú và được kế thừa của các giai đoạn trước với mức độ khác nhau.

Thành tựu nổi bật từ 2006 đến nay như sau:

 

Về Nghiên cứu chọn tạo giống mới:

Trong giai đoạn 2006 - 2012, Viện đã được công nhận 391 giống cây trồng mới (trong đó, 121 giống công nhận chính thức, 270 giống công nhận tạm thời); 19 kỹ thuật tiến bộ và 27 biện pháp kỹ thuật khác được công nhận thử nghiệm trong hầu hết các lĩnh vực.

 

Ở phía Bắc, thành tựu nổi bật nhất là chọn tạo thành công và phát triển trên diện rộng bộ giống lúa ngắn ngày và lúa thơm năng suất cao, chất lượng gạo cao hơn so với giống lúa thuần Trung Quốc. Một số giống nổi bật là AC5, PC6, HT6, SH14.... Ước tính diện tích giống mới của Viện được sản xuất ở các tỉnh phía Bắc chiếm khoảng 750 - 800 ngàn ha/năm. Xét về hiệu quả kinh tế, chỉ tính giống mới cho năng suất tăng 10% thì diện tích trên đã làm tăng thêm khoảng 350 ngàn tấn thóc, tương đương 1,2 ngàn tỷ đồng/năm.

 

Ở phía Nam, kết quả điều tra của Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm cây trồng và Phân bón Quốc gia (2008) cho thấy diện tích sử dụng giống lúa do Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,9% diện tích gieo trồng cả nước hay 80% diện tích lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với 2,4 triệu ha, giống mới cho năng suất tăng 10%, sản lượng sẽ tăng thêm 1,2 triệu tấn thóc/năm thì đã làm lợi khoảng 4.200 tỷ đồng/năm. Giống lúa của Viện còn được trồng phổ biến ở Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên với tổng diện tích gieo gần 100 ngàn ha chiếm 37,7%; ở vùng Đông Nam Bộ trên diện tích 221 ngàn ha, chiếm 45,4%.

 

• Giống lúa lai: Có 5 giống được công nhận (2 giống 3 dòng và 3 giống 2 dòng). Các giống lai 2 dòng (HYT102, HYT103, HYT108) có năng suất và chất lượng khá hơn giống lai 2 dòng của Trung Quốc; giống lai 3 dòng (HYT100) hạt gạo trong đẹp, chất lượng cơm tương đương với giống lai có chất lượng tốt nhất của Trung Quốc.

• Giống ngô: Có 20 giống ngô mới được công nhận, trong đó có 17 giống lai. Năng suất giống mới tương đương với các giống do các công ty nước ngoài giới thiệu vào Việt Nam;

tính chống chịu hạn, sâu bệnh khá hơn, giá cả thấp hơn 30 - 40%. Giống ngô Việt Nam có thể cạnh tranh được với giống nước ngoài ở thị trường trong nước và đã xuất khẩu sang một số nước trong khu vực như Lào, Trung Quốc. Hiện nay, mỗi năm Viện Nghiên cứu Ngô sản xuất khoảng 4.000 tấn giống, đảm bảo cung cấp 40% nhu cầu giống ngô lai cả nước. Với lượng giống do Viện sản xuất và cung ứng, với giá bán thấp hơn khoảng 1USD/kg so với giá giống ngoại nhập, thì mỗi năm nông dân cũng tiết kiệm được khoảng 4 triệu USD. Nhờ giống mới, trong 5 năm qua năng suất ngô tăng 5,2 tạ/ha (từ 34,6 tạ/ha lên 39,8 tạ/ha). Năng suất ngô Việt Nam đã vượt qua Thái Lan và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Tỷ lệ trồng giống lai tương đương với Thái Lan và vượt xa các nước Indonesia, Philippines. Năng suất tăng đã mang lại lợi nhuận khoảng 500 tỷ đồng/năm.

 

• Đậu đỗ: Đã có 9 giống lạc mới, 12 giống đậu tương mới được công nhận, trong đó nổi bật nhất là các giống lạc năng suất cao, góp phần đưa năng suất lạc tăng toàn quốc từ 12,8 tạ/ha (1999) lên 21,0 tạ/ha hiện nay. Một số giống có thể đạt năng suất trên 50 tạ/ha trên diện rộng.

Riêng diện tích 2 giống lạc L18 và L23 hàng năm chiếm khoảng 40.000ha, chiếm 15% diện tích lạc cả nước, năng suất tăng 5 - 10 tạ/ha, làm lợi khoảng 330 tỷ đồng/năm. Diện tích giống đậu tương mới khoảng 22.000 ha/năm, chiếm 11,5% diện tích cả nước, năng suất tăng 200 kg/ha, làm lợi khoảng 52 tỷ đồng/năm.

 

• Cây ăn quả: Đã bình tuyển và chọn ra 4 giống vải chín sớm (sớm hơn vải Thanh Hà 20 - 25 ngày), 2 giống nhãn chín muộn hơn các giống khác khoảng 20 ngày. Viện cũng đang mở nhanh diện tích giống cam không hạt V2 tại nhiều vùng cam truyền thống như Phủ Quỳ, Anh Sơn (Nghệ An), Cao Phong, Hòa Bình. Đây là giống có chất lượng tốt, rất ít hạt, mã quả đẹp, khả năng kháng bệnh tốt, năng suất tại Nghệ An có nơi đã đạt 20 tấn quả/ha ngay ở năm thứ 4. Giống đã được làm sạch bệnh qua vi ghép đỉnh sinh trưởng. Với ưu điểm vượt trội nên diện tích cam V2 đã đạt hàng ngàn hecta chỉ trong 2 - 3 năm. Ngoài ra nhiều giống mới được công nhận như giống cam Sành không hạt, giống thanh long ruột đỏ, ruột hồng; các giống dứa Cayen Long Định 2, Cayen H180 đang được phát triển rộng trong sản xuất ở các tỉnh phía Nam. Ngoài ra, Viện cũng đã tuyển chọn và thuần hóa được nhiều giống cây ăn quả ôn đới như hồng, lê, đào, mận, đang được trồng ở một số tiểu vùng có khí hậu đặc thù tại Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

 

• Giống chè: Hiện nay các giống chè mới do Viện chọn tạo đã chiếm tỷ lệ cao trên diện tích chè toàn quốc, trong đó giống LPD1: 15.000ha (12%), LPD2: 18.000ha (14%), PH1: 13.000ha (10%). Riêng tỉnh Nghệ An, diện tích các giống chè mới của Viện chiếm 96%. Lưu ý rằng, trước năm 2000, diện tích các giống chè mới chỉ chiếm khoảng 12%, năng suất bình quân 3,6 tấn/ha, đến năm 2005 diện tích các giống chè mới đã đạt 35,6%, năng suất chè bình quân đạt 5,8 tấn/ha. Năm 2009, diện tích các giống chè mới đã chiếm gần 55%, năng suất bình quân đạt 7,3 tấn/ha. Giá chè nguyên liệu giống mới tăng 50% so với các giống cũ. Đặc biệt, một số giống chè mới do Viện lai tạo đã được dùng làm nguyên liệu để biến chè ô long và chè xanh đặc sản.

 

• Giống cà phê: Các dòng cà phê vối mới được chọn tạo (TR4, TR5, TR6, TR7, TR8,TR9, TR10, TR11, TR12, TR13) năng suất bình quân 4 - 6 tấn nhân/ha, khối lượng 100 nhân 17 - 19g, kháng cao với bệnh gỉ sắt. So với giống thực sinh năng suất cà phê cao hơn từ 0,5 đến 1 tấn nhân/ha.

Viện đã cung cấp cho sản xuất hàng triệu cây giống ghép chất lượng cao, đồng thời ghép cải tạo thay giống trên 40 ngàn ha cho những diện tích cà phê vối kém hiệu quả. Quy trình tái canh cây cà phê đang được triển khai trên diện rộng tại các vùng trồng cà phê vối chủ lực.

 

• Giống sắn: Có thể nói giống sắn của Viện đã có những tiến bộ vượt bậc. Giống mới chủ lực như KM94, KM140, KM98-7 phủ gần như toàn bộ diện tích sắn cả nước với năng suất tăng 100% trong 10 năm qua, đưa năng suất sắn trung bình đạt gần 18 tấn/ha.

 

• Giống rau: Đã tạo được giống cà chua lai FM20, FM29, Lai số 9 năng suất đạt 45 - 50 tấn/ha; giống dưa chuột lai CV5, CV11, CV29 và CV209 có khả năng trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất trung bình đạt 40 - 55 tấn/ha; 2 giống ớt cay lai HB9, HB14 có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất trung bình đạt 30 - 35 tấn/ha, cao hơn các giống phổ biến 10 - 15%.

 

• Giống hoa: Từ nguồn gen thu thập trong nước và nhập nội, Viện đã chọn, tạo được 13 giống mới của các loài: hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily, loa kèn, lan hồ điệp và layơn. Giống mới và kỹ thuật đã giúp miền Bắc từ chỗ không trồng được hoa lily, đến nay hầu hết các tỉnh đều trồng được vào vụ Đông - Xuân với sản lượng trên 10 triệu cây (cành)/năm, chất lượng hoa không thua kém hoa nhập khẩu từ Côn Minh, Trung Quốc. Các giống và quy trình kỹ thuật trồng hoa của Viện đã được chuyển giao cho trên 30 tỉnh. Viện cũng đã nghiên cứu và làm chủ được công nghệ sản xuất hoa lan Hồ Điệp quy mô công nghiệp, từ sản xuất cây in vitro, nuôi cấy, xử lý ra hoa và thương mại sản phẩm.

 

• Nấm ăn và nấm dược liệu: Trong vòng 16 năm (1996 - 2012) đã khôi phục và phát triển nghề trồng nấm với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, từ sản lượng năm 50 tấn năm 1995 lên 270.000 tấn năm 2010. Đồng thời, Viện đã nhập nội được 120 chủng giống nấm khác nhau để đưa vào sản xuất đại trà 16 chủng giống nấm, trong đó, 3 chủng giống nấm được công nhận chính thức, 7 giống công nhận tạm thời và 11 quy trình công nghệ được công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Nhiều giống nấm chất lượng cao như nấm Trân châu, Ngọc trâm, Chân dài hay nấm Linh chi đã trở nên phổ biến trong sản xuất.

Ngoài ra, nhiều giống cây trồng mới cũng đang được phổ biến như điều, ca cao, chuối tiêu hồng, chanh leo, cao su chịu lạnh.

 

- Về Chăn nuôi: Viện đã nghiên cứu thành công và chuyển giao vào sản xuất “Dòng lợn nái lai tổng hợp giữa hai nhóm giống Landrace × Yorkshire làm nái nền trong sản xuất lợn thương phẩm” và “Dòng lợn đực giống cuối cùng được lai giữa hai nhóm giống Pietrain và Duroc”, hai TBKT này đã được sử dụng rộng rãi tại vùng Đông Nam Bộ để sản xuất lợn lai thương phẩm 3 - 4 máu nuôi thịt. Đã xây dựng thành công thương hiệu Bình Thắng là một trong những nơi cung cấp lợn giống tốt nhất phía Nam; hàng năm Viện cung cấp 700 lợn đực giống, 2000 lợn nái hậu bị giống ông bà, 250.000 con gà giống cho 40 tỉnh thành trong toàn quốc, trong đó 70% là ở các tỉnh phía Nam. Từ nguồn giống này, đã góp phần cải tạo và nâng cao năng suất đàn lợn của khu vực các tỉnh phía Nam: số con đẻ ra từ 9 con/ổ lên 10 con/ổ, giảm tuổi đẻ lứa đầu và số ngày động dục lại sau cai sữa; tăng trọng trung bình từ 650g lên trên 700g/con/ngày và tỷ lệ nạc từ 56% lên 58 - 60%, độ dày mỡ giảm 4%. Các cơ sở sử dụng nguồn giống lợn, gà của Viện đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn các nguồn giống khác từ 10 - 15%.

Đã lai tạo được giống gà thịt thả vườn BT2 thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi nông hộ, năng suất trứng đạt 195 - 200 trứng/mái/năm; năng suất thịt của dòng trống lúc 12 tuần tuổi đạt 2,0 - 2,2 kg, tiêu tốn thức ăn đạt 2,4 - 2,6kg TĂ/kgP. Từ năm 2002 đến nay, Viện nuôi giữ giống gốc hai dòng gà BT2 với số lượng 1000 mái ông bà/năm.

Trung tâm Gia súc lớn đã cung cấp 150 bò đực giống lai Sind, lai Brahman, Droughtmaster thuần cho các trang trại và hộ chăn nuôi để cải tạo đàn bò địa phương, đàn con sinh ra tăng trọng bình quân 500 - 600 g/con/ngày so bò địa phương chỉ khoảng 300 - 400 g/con/ngày, góp phần tăng thu nhập cho các hộ/trang trại chăn nuôi bò khoảng 20%. Việc chuyển giao 30 trâu đực Murah chất lượng tốt để cải tạo đàn trâu địa phương tỉnh Bình Phước góp phần gia tăng tầm vóc đàn trâu lên khoảng 15%. Hàng năm cung cấp 10 - 15 tấn hom và 700 - 1000 kg hạt giống cỏ các loại cho hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, góp phần phát triển nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò thịt và bò sữa.

Đã nghiên cứu được nhiều tiến bộ kỹ thuật về thức ăn chăn nuôi như: ngân hàng dữ liệu về thành phần dinh dưỡng thức ăn, tỷ lệ tiêu hóa của các loại thức ăn và nhu cầu dinh dưỡng của các loại gia súc. Các tiến bộ này được chuyển giao vào sản xuất góp phần giảm chi phí thức ăn từ 5 - 10% và tăng trọng 5 - 7%. Đã tổ chức tổng cộng 200 khóa huấn luyện chăn nuôi lợn gà cho 3.000 lượt cán bộ, kỹ thuật viên chăn nuôi và nông dân ở 61 tỉnh thành trong cả nước.

Đã chọn tạo 2 giống tằm lưỡng hệ nguyên Đ2, E38 và giống lai tứ nguyên GQ2218 cho miền Bắc và miền Trung, 4 giống tằm lưỡng hệ nguyên LAREC1, LAREC2, LAREC7, LAREC8 và giống tằm lai tứ nguyên TN1278 cho vùng Tây Nguyên.

 

- Trong nghiên cứu cơ bản, Viện đã đạt được một số thành công trong tiếp cận và làm chủ công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh phục vụ tạo giống và nhân giống cây trồng mới, trong sản xuất phân bón sinh học, vi sinh vật chức năng và chế phẩm vi sinh. Hiện nay, Viện đang quản lý 24.500 mẫu nguồn gen của các loài cây trồng có ở Việt Nam với gần 20.000 nguồn gen đang bảo tồn tại Ngân hàng gen Quốc gia và trên 5.000 nguồn gen lưu giữ tại cơ quan mạng lưới. Ngân hàng Gen vi sinh vật, cây phân xanh và cây phủ đất cũng được thu thập, lưu giữ và khai thác hiệu quả. Các nhà khoa học của Viện Bảo vệ thực vật đã chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh vi-rút lúa lùn sọc đen phương nam hại lúa, bệnh vi-rút vàng lùn, lùn xoắn lá lúa, chồi cỏ mía, chổi rồng trên nhãn và sắn; Tiêu bản nguyên khối các loại đất chính cùng với đặc điểm lý - hóa học của chúng đã giúp hình thành Trung tâm Thông tin và Tư liệu Đất Việt Nam quy mô và chất lượng quốc tế. Các nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng theo vùng đặc thù đã giúp xây dựng các quy trình sử dụng phân bón hiệu quả hơn.

 

Về môi trường, thông qua quan trắc và phân tích môi trường đất cả nước cho phép lập cơ sở dữ liệu về nền môi trường của các loại đất chính. Đã nghiên cứu phát triển được nhiều sản phẩm và quy trình chế biến phế thải trồng trọt, chăn nuôi thành phân bón hữu cơ vi sinh, xử lý các vùng đất bị ô nhiễm nghiêm trọng thuốc BVTV, thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV. Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng và giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đã được tiến hành. Các quy trình canh tác giảm thiểu phát thải khí nhà kính, xử lý rác thải, phế thải được hoàn thiện và chuyển giao.

 

Về phát triển Quy trình công nghệ:

Ngoài tiến bộ về giống, Viện cũng có hàng trăm quy trình công nghệ được công nhận. Các quy trình sản xuất theo GAP, nâng cao chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất nông sản an toàn, bảo hộ tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý được tiến hành. Đặc biệt, các quy trình phòng trừ rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá; Lúa lùn sọc đen trên lúa; Quy trình IPM phòng bệnh vàng lá greening trên cây có múi; Thâm canh lạc đạt năng suất 5 tấn/ha; Nhân giống dứa cayen bằng giâm hom; Sản xuất rau an toàn theo VietGAP, ghép cà chua để nâng cao khả năng chống bệnh héo xanh vi khuẩn, tăng khả năng chống chịu ngập úng trong điều kiện trồng trái vụ; Tạo cây giống sạch bệnh bằng vi ghép đỉnh sinh trưởng; Nhân giống chuối bằng in-vitro; Công nghệ sản xuất các chế phẩm BVTV như bộ KIT giám định nhanh bệnh vàng lá greening; Sản phẩm SOFRI - Protein phòng trừ ruồi đục quả; Chế phẩm SOFRI - trừ kiến trên cây thanh long; Kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững... đã được công nhận và chuyển giao vào sản xuất. Các quy trình trồng nấm từ quy mô hộ đến trang trại, từ nấm phổ biến đến nấm cao cấp đã được hoàn thiện, thực sự đưa trồng nấm thành một nghề mới, hiệu quả, được Chính phủ đưa vào Chương trình Sản phẩm Quốc gia. Công nghệ trồng hoa cao cấp đã được hoàn thiện và chuyển giao cho trên 50% tỉnh thành trong cả nước.

 

Về Thương mại sản phẩm và Hợp tác với địa phương:

Thương mại sản phẩm nghiên cứu là chủ trương lớn của Viện nhằm đưa nhanh kết quả vào

sản xuất, đồng thời khẳng định tính hiệu quả của công tác nghiên cứu. Theo chủ trương này, từ năm 2006 đến 8/2012 đã có 30 giống được chuyển giao thương mại (18 giống lúa thuần, 2 giống lúa lai và 4 giống ngô, 1 giống lạc) với giá trị đạt trên 30 tỷ đồng, trong đó giống ngô LVN66 chuyển nhượng cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; giống lúa lai HYT103 chuyển nhượng cho Công ty Đại Dương, Trung Quốc. Năm 2012 cũng có nhiều giống đang được các công ty đặt mua như giống lúa P6ĐB, HYT102, HYT108, SH8, GL159; giống lạc L19; giống dưa chuột lai CV29, CV209…

Việc chuyển nhượng bản quyền tuy chưa nhiều so với số lượng giống tạo ra, nhất là các giống thuần nhưng đây là tín hiệu tích cực về liên kết khoa học - doanh nghiệp; đồng thời hoạt động này cũng gián tiếp khẳng định chất lượng của giống đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, sản xuất. Để tăng cường hoạt động này, Viện đã ký “Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực giống cây trồng” với Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng và ký biên bản hợp tác với UBND một '73ố tỉnh trong cả nước.

Về Hợp tác quốc tế:

Hiện nay, Viện và các đơn vị trực thuộc có quan hệ hợp tác với 21 quốc gia, vùng lãnh thổ và 24 tổ chức quốc tế để triển khai hàng chục dự án HTQT theo Nghị định thư, trên 50 dự án song phương và đa phương. Các tổ chức có nhiều đóng góp cho hoạt động của Viện là: IRRI, ACIAR, ICRISAT, CIAT, CIP, CABI, ICRAF, CIRAD, IRD, RDA, JICA, FFTC, AVRDC, BFDW... cũng như nhiều viện nghiên cứu, trường đại học của Trung Quốc, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Argentina, Venezuela... Một số biên bản ghi nhớ đã được ký kết với CIP, CIAT, CIRAD, IRD, Đại học Montpellier-II (Pháp); Đại học Missouri, Viện KHNN Trung Quốc (CAAS), Viện KHNN Vân Nam (YAAS), Trường Đại học Tứ xuyên, Đại học Griffitt, INTA (Argentina)... Nhờ HTQT, nhiều kỹ thuật tiến bộ và giống mới như giống lúa, đậu đỗ, cây ăn quả... cũng như kỹ thuật mới được chuyển giao vào Việt Nam. Hàng trăm cán bộ được đào tạo sau đại học tại nước ngoài và hàng ngàn người được đào tạo ngắn hạn, dự hội nghị, hội thảo quốc tế. Viện cũng được giao đón tiếp nhiều lãnh đạo cao cấp, nguyên thủ các nước để giới thiệu thành tựu KHCN nông nghiệp nước nhà.

Viện đã phối hợp xây dựng Trung tâm KoPIA của Hàn Quốc (2009) để chuyển giao nhanh kết quả nghiên cứu của bạn vào Việt Nam. Viện cũng khá thành công trong hợp tác khoa học và đào tạo với Châu Phi. Năm 2009, Viện đã giúp Sudan, Mozambique... sản xuất lương thực và đào tạo nguồn nhân lực cho bạn. Hiện nay một số nước đang yêu cầu Viện hợp tác giúp đỡ như Sierra Leone, Công gô, Angola. Ngoài ra, Viện còn được giao nhiệm vụ giúp Cuba sản xuất lúa gạo, ngô, đậu tương.

Với chủ trương Quốc tế hóa hoạt động KHCN, Viện đã mời các tổ chức quốc tế đặt văn phòng tại Viện, đồng thời Chính phủ cũng đã đồng ý để Viện làm đại diện của Việt Nam tham gia CABI, APAARI và TFNet. Ngoài ra Viện cũng tích cực tham gia Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế, màng lưới nghiên cứu sắn; các chương trình của IRRI như IRRC, CURE, Hybrid- Rice. Một số đơn vị cũng mời được tình nguyện viên nước ngoài.

Về Đào tạo sau đại học:

Viện được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học với 7 chuyên ngành Thạc sỹ và 11 chuyên ngành Tiến sỹ. Sau khi được ủy quyền của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Viện được tuyển sinh và cấp bằng Tiến sỹ, công tác này được tăng cường hơn, chủ động hơn. Trong giai đoạn 2006 - 6/2012, Viện đã đào tạo được 103 Tiến sỹ và 188 Thạc sỹ, đưa tổng số Tiến sỹ được đào tạo tại Viện là 372 và số Thạc sỹ là 583.

Cùng giai đoạn này, các đơn vị thuộc Viện cử gần 100 cán bộ đào tạo trình độ Tiến sỹ, Thạc sỹ tại nước ngoài theo các đề tài/dự án/chương trình khác nhau. Trên 200 cán bộ theo học sau đại học tại cơ sở đào tạo trong nước. Ngoài đào tạo sau đại học, từ năm 2009, Viện còn phối hợp với Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT-I tổ chức trên 20 lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ khuyến nông, quản lý các cấp với trên 1.200 học viên.

 

Về Xây dựng nông thôn mới:

Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư và của Bộ về việc triển khai thí điểm Xây dựng Nông thôn mới tại 11 xã trong toàn quốc, các đơn vị của Viện được giao tham gia hợp phần sản xuất và chuyển giao công nghệ tại 8/11 xã: i) Hải Đường (Nam Định); ii) Thụy Hương (Hà Nội); iii) Thanh Chăn (Điện Biên); iv) Gia Phố (Hà Tĩnh); v) Tam Phước (Quảng Nam); vi) Tân Hội (Lâm Đồng); vii) Tân Lập (Bình Phước) và viii) Định Hòa (Kiên Giang). Sau 2 năm triển khai, nhìn chung những nội dung do Viện chủ trì cơ bản hoàn thành, đã tư vấn cho 8 xã xây dựng được đề án phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng khai thác thế mạnh, sản xuất hàng hóa, tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời chuyển giao giống, kỹ thuật mới cho nông dân. Một số mô hình tốt, được Ban Chỉ đạo đánh giá cao như: Thanh Chăn, Thụy Hương, Định Hòa.

 

Về Công tác thông tin, triển lãm:

Trang web tiếng Việt và tiếng Anh được xây dựng; Tạp chí “Khoa học và công nghệ nông nghiệp Việt Nam” được xuất bản từ 4 số/năm lên 12 số/năm. Viện đã mời được một số nhà khoa học quốc tế tham gia Hội đồng biên tập, viết bài, biên tập tiếng Anh giúp nâng cao chất lượng Tạp chí và giới thiệu kết quả nghiên cứu ra nước ngoài.

Quảng bá kết quả hoạt động khoa học thông qua hội chợ triển lãm, chợ công nghệ, diễn đàn khuyến nông @ công nghệ được quan tâm chỉ đạo. Việc tổ chức thành công triển lãm tại Đại hội Lúa gạo quốc tế lần thứ 3 (IRC-2010) và Hội nghị FAO vùng, 2012 (FAO-APRC31) đã nâng vị trí và uy tín của hoạt động thông tin. Viện cũng chủ động xây dựng ngân hàng kiến thức của cây lúa, cây ngô và cây cà phê. Một số cây, con chủ lực khác cũng đã được lên kế hoạch thực hiện. Để nâng cao chất lượng thông tin, Viện đã thành lập mạng lưới cộng tác viên để thực hiện “Mỗi ngày một kỹ thuật tiến bộ” trên Báo Nông nghiệp Việt Nam, và chương trình truyền hình “Mỗi tuần một giống mới”.

 
Các tin tức khác [Quay về] 
 
     Kết quả hoạt động KHCN của viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng 2016 - 2020    (16/08/2016 | 1136)


  :: TIN MỚI NHẤT
Top 17 sản phẩm có thiết kế xuất sắc nhất đầu năm 2017, 2 sản phẩm là của Microsoft
Phát hiện loài mới họ Mộc hương Aristolochiaceae
Chương trình làm việc của PGĐ Phạm Văn Toản
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Chương trình làm việc của Q. Giám đốc Trịnh Khắc Quang

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Bí thư Nguyễn Thiện Nhân: Cần điều chỉnh sự bất hợp lý trong sử dụng đất ở Tp.HCM
Nước ngoài hưởng lợi cà phê Việt
Kỳ tích trị thuỷ độc nhất vô nhị trên thế giới của người Hà Lan
Các tỉnh phía Nam tim giải pháp đối phó với dịch bệnh trên lúa
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính : Quyền Giám đốc Trịnh Khắc Quang

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 04.8615487;  Fax: 04.8613937.