Giới thiệu > Trang tin Lịch sử
 
 
 
 
Lịch sử hình thành
Ngày đăng: 18/04/2014       Số lượt xem: 4356       Người đăng: admin
 

Nhà điều hành

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (sau đây gọi tắt là Viện) được thành lập và tổ chức lại theo các Quyết định số 220/2005/QĐ-TTg và 930/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp các đơn vị nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiền thân của Viện là các đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Canh Nông, Bộ Nông Lâm và Bộ Nông nghiệp trước đây gồm Viện Trồng trọt (năm 1952), Viện Khảo cứu Nông Lâm (1955), Viện Khảo cứu trồng trọt (1957), Học viện Nông Lâm (1958), Viện Khoa học Nông nghiệp (1963) và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1977). Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ nhà khoa học, cán bộ, công nhân viên của Viện đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần đáng kể trong việc đưa nền nông nghiệp nước nhà ngang tầm khu vực với nhiều mặt hàng xuất khẩu đứng hàng nhất, nhì thế giới.

Ngày 9 tháng 2 năm 1952, giữa núi rừng Việt Bắc, trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện Nghị định số 01/CN/QT/NĐ của Bộ trưởng Bộ Canh Nông, Viện Trồng trọt đã ra đời, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của khoa học kỹ thuật đối với công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Trong khoảng thời gian 10 năm sau đó, để hoàn thiện mô hình tổ chức, Viện đã được Chính phủ và Bộ Nông nghiệp đổi tên 3 lần nữa vào các năm 1955, 1957 và 1958. Nhiệm vụ của Viện thời kỳ này bao gồm cả nghiên cứu và đào tạo với ba lĩnh vực chủ yếu: trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp.

Trong những bước đi đầu tiên, hoạt động chủ yếu của Viện là điều tra, thu thập kinh nghiệm sản xuất của nông dân, thông qua luận giải bằng kiến thức khoa học để nâng lên thành biện pháp kỹ thuật, phổ biến và nhân rộng. Các kỹ thuật điển hình giai đoạn này là nuôi bèo hoa dâu, phát triển cây phân xanh (điền thanh mô), chế biến (ủ) và sử dụng phân chuồng, phân bắc. Thời kỳ đó, khi chúng ta chưa có phân vô cơ, việc tăng cường nguồn phân xanh, hữu cơ đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời cải thiện độ phì nhiêu của đất.

Việc đưa ngô đồi xuống ruộng đã đưa năng suất ngô tăng gấp 2 lần ở chiến khu Việt Bắc cũng là một thành tựu nổi bật. Sau này, Viện đã đi sâu tổng kết kinh nghiệm “nước, phân, cần, giống” của nông dân, nâng lên thành hệ thống kỹ thuật liên hoàn cho mỗi loại cây trồng và vật nuôi.

Được sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, Viện đã tiến hành điều tra, phân loại đất miền Bắc Việt Nam dựa trên quan điểm phát sinh học, làm cơ sở cho việc xây dựng bản đồ đất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 và công tác quy hoạch, phân vùng nông nghiệp sau này.

Viện cũng tiến hành tuyển chọn từ tập đoàn giống nhập nội và lai tạo thành công các giống lúa Trà trung tử, Nông nghiệp 1, 813, 828… Nghiên cứu và đưa vào áp dụng kỹ thuật bón phân và thâm canh cây trồng, dùng bả diệt bướm sâu đục thân lúa… đã góp phần xây dựng điển hình 5 tấn thóc 1ha/1 năm vào đầu thập kỷ 60 (thế kỷ 20) ở miền Bắc nước ta. Các nhà khoa học của Viện cũng đã tiến hành điều tra, thu thập hàng nghìn mẫu giống cây trồng bản địa, mẫu côn trùng, ký sinh trùng gây hại cây trồng và vật nuôi, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng ngân hàng gen cây trồng cũng như bộ thông tin tư liệu côn trùng tương đối phong phú hiện nay.

Sau một thời gian hoạt động trên cả hai chức năng nghiên cứu và đào tạo, mô hình Học viện Nông Lâm tỏ ra chưa phù hợp với năng lực quản lý cũng như yêu cầu của thực tiễn lúc bấy giờ nên Học viện được tách thành hai đơn vị là Viện Khoa học Nông nghiệp và Trường Đại học Nông nghiệp theo Quyết định số 137- CP ngày 21/9/1963 của Chính phủ. Từ thời điểm đó, Viện chủ yếu tập trung cho công tác nghiên cứu khoa học. Trong thời kỳ này, thành tựu của cuộc Cách mạng Xanh lần thứ nhất đã tạo nên niềm tin và động lực cho các nhà khoa học của Viện nghiên cứu tạo ra một vụ lúa mới - vụ lúa Xuân - với các giống ngắn ngày, năng suất cao, thay thế cho vụ lúa Chiêm dài ngày, năng suất thấp. Lúa vụ Xuân không chỉ góp phần đưa năng suất toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha/năm vào năm 1974 mà còn thay đổi cả hệ thống canh tác, tạo điều kiện cho việc hình thành vụ Đông.

Viện cũng thành công trong việc cải tiến giống trên cơ sở nguồn gen nhập nội và giống cổ truyền, chọn tạo được nhiều giống lúa mới năng suất cao như 314, 424, Nếp 415, Trân châu lùn, NN5, NN8, NN22, CN2, IR2151, IR2153, C22… Cơ sở khoa học của việc thâm canh, luân canh và xen canh cây trồng cũng được bắt đầu nghiên cứu, tạo nên các gói kỹ thuật ngày càng đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp.

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, công tác nghiên cứu khoa học đã được tổ chức lại thành hệ thống trong phạm vi toàn quốc. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 275-CP ngày 8 tháng 10 năm 1977 của Chính phủ như một Viện đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và tổng hợp, cũng như đào tạo sau đại học trong lĩnh vực nông nghiệp.

Viện đã tập trung nghiên cứu tạo ra tiến bộ kỹ thuật để áp dụng cho các vùng sinh thái, nhất là chọn tạo hàng loạt giống lúa, lạc, đậu tương, khoai tây, khoai lang, sắn, điều… có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu được điều kiện bất thuận của thời tiết và kháng sâu bệnh. Các giống nổi bật thời gian này là giống lúa thuần CN2, 79-1, Xi21, Xi23, NX30, LT2, HT1, T10; giống Nếp 97, M98; giống lúa lai HYT-83; khoai tây KT2, KT3, Hồng Hà 2, Hồng Hà 7; giống lạc Sen lai, L14, MD7; đậu tương AK03, VX83, Đt12, ĐT2000; khoai sọ KS4... Ngoài giống, việc phát triển lạc vụ Thu Đông và che phủ nilon cho lạc, nghiên cứu kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững, nông lâm kết hợp cũng là những kết quả đáng ghi nhận.Viện đã nhanh chóng tiếp cận thành tựu lúa lai từ Trung Quốc và từ đó đến nay, chúng ta cơ bản nắm bắt và làm chủ được công nghệ tạo lúa lai 2 và 3 dòng cũng như quy trình sản xuất hạt lai F1. Kết quả nghiên cứu về cơ sở khoa học ruộng lúa năng suất cao với quy trình sản xuất tiên tiến; nghiên cứu cơ bản sinh lý, sinh hoá, công nghệ sinh học, di truyền miễn dịch, vi sinh vật hay xây dựng ngân hàng gen cây trồng với 9.200 mẫu giống của 76 loài thực vật và ngân hàng gen vi sinh vật nông nghiệp với 450 chủng vi sinh vật nông nghiệp... là những đóng góp rất quan trọng của Viện giai đoạn này. Nghiên cứu về ngành hàng, cơ cấu sản xuất góp phần hình thành nên một hướng nghiên cứu mới: Hệ thống nông nghiệp.

Trong cùng thời gian, do sự phân công của tổ chức, nhiều đơn vị nghiên cứu song song tồn tại với Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam. Một số Viện đạt thành tích đặc biệt xuất sắc và được phong danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới như Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu Ngô. Các viện chuyên đề cũng đạt nhiều kết quả với các công trình đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước. Thành tựu nổi bật thời kỳ này là giống lúa ngắn ngày năng suất cao với thương hiệu OM, giống lúa kháng rầy nâu, đạo ôn, chịu hạn, chịu úng. Giống lúa CR203 kháng rầy, ngắn ngày, thích ứng rộng đã được gieo trồng rộng rãi ở hầu hết các tỉnh miền Bắc. Giống lúa cạn LC hay các giống lúa chất lượng protein cao P6... chiếm một diện tích đáng kể. Ngoài lúa, các giống ngô LVN, giống cà phê vối, giống chè chất lượng, giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, giống cây ăn trái, giông snấm ăn và nấm dược liệu... cũng được phổ biến rộng rãi trong sản xuất.

Ngoài nghiên cứu chọn tạo giống, các nhà khoa học Bảo vệ thực vật đã tiến hành 4 cuộc tổng điều tra côn trùng, bệnh hại và cỏ dại hại cây trồng trong toàn quốc để thiết lập danh mục thành phần sâu bệnh dịch hại, ký sinh thiên dịch và xây dựng, bảo quản, lưu trữ bộ mẫu quốc gia côn trùng với 68.891 mẫu. Cùng với điều tra cơ bản, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái các đối tượng dịch hại chính nguy hiểm với cây trồng được tiến hành nhằm tìm ra giải pháp quản lý tổng hợp, bền vững.

Các nhà khoa học thổ nhưỡng nông hóa đã tham gia các chương trình điều tra cơ bản tài nguyên đất, nghiên cứu về quy luật phát sinh, phát triển góp phần quan trọng trong việc xây dựng bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 và 1/1.000.000 toàn quốc. Trung tâm Thông tin tư liệu Đất Việt Nam với bảo tàng phẫu diện nguyên khối của tất cả các loại đất được xây dựng; hệ phân loại cập nhật với quốc tế FAO-UNESSCO-WRB hay USDA được hoàn thiện; nguyên lý bón phân cân đối được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Thành tựu nghiên cứu của Viện về đất phèn Đồng bằng sông Cửu Long cùng với kết quả phát triển hệ thống tưới tiêu, ém phèn, rửa phèn của các nhà khoa học Thủy nông là cơ sở khoa học quan trọng cho Chính phủ khai thác hiệu quả Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.

Cùng với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất, Viện còn tham gia đào tạo sau đại học. Thời kỳ này, hơn 300 Tiến sỹ, 450 Thạc sỹ Nông nghiệp (gồm cả người nước ngoài) đã được đào tạo tại Viện, trong đó nhiều người đã trở thành nhà quản lý cấp Trung ương, cấp tỉnh hoặc đang đảm nhận các vị trí quan trọng tại các cơ quan nghiên cứu, đào tạo.

Sau 20 năm đổi mới, Đảng và Chính phủ nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của khoa học trong phát triển nông nghiệp nên đã quyết định hoàn thiện một bước hệ thống tổ chức nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu. Vì lý do đó, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo các Quyết định số 220/QĐ-TTg và Quyết định số 930/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện tại, Viện có 5 ban chức năng, 18 đơn vị trực thuộc, với biên chế là 2.674 người, trong đó có 31 Giáo sư và Phó Giáo sư; 191 TSKH và TS; 555 Thạc sỹ; 1.129 Kỹ sư/Cử nhân; Tỷ lệ cán bộ khoa học trình độ từ đại học trở lên chiếm 41,3%. Tổng số Đảng viên là 1.106 người sinh hoạt tại 29 tổ chức Đảng.

 
Các tin tức khác [Quay về] 
 


  :: TIN MỚI NHẤT
Xây dựng Đồng Giao trở thành thủ phủ rau quả nổi tiếng thế giới
Kết quả bước đầu mô hình giảm lượng giống gieo sạ ở huyện Tân Hồng (Đồng Tháp)
Nghiên cứu phương pháp mới bảo quản thịt tươi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
Rớt giá, rau biến thành... rác
Kết quả bước đầu giám định bệnh héo ngọn chết cây sâu riêng ở Đắk Lắk và giải pháp phòng chống

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Tìm giải pháp căn cơ phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo
Triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường khảo sát mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại tỉnh Ninh Bình
Chương trình làm việc của Q. Giám đốc Trịnh Khắc Quang
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính : Quyền Giám đốc Trịnh Khắc Quang

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 04.8615487;  Fax: 04.8613937.