Tin nội bộ > Trang tin Hành chính
 
 
 
 
Lễ ra mắt Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam
Ngày đăng: 12/06/2007       Số lượt xem: 2671       Người đăng: admin
 
Trong một xã hội phát triển, Khoa học công nghệ (KHCN) ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực phát triển kinh tế-xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng. Nhờ thành tựu của KHCN mà số lượng sản phẩm mang tính đột biến, khó dự báo trước về hàm lượng trí tuệ ngày càng tăng lên, tạo tiền đề cho những thay đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của mỗi quốc gia, tạo ra sức mạnh cạnh tranh ngày càng to lớn hơn.. Nhận thức được rằng đầu tư cho KHCN là đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất, Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đến KHCN. Trong nông nghiệp, chủ trương này được thể hiện ở nhiều Nghị quyết của Đảng, Quốc Hội, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ như Nghị quyết TƯ 2 (khoá VIII) và Kết luận Hội nghị TƯ 6 (lần 2) về Khoa học công nghệ; các Chỉ thị của Bộ Chính trị: Chỉ thị 63 CT/TW (2001) về “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn”, Chỉ thị 50CT/TW (2005) về "Phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học phục vụ các ngành kinh tế Quốc dân"; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định 272/2003/QĐ-TTg (2003) phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 và Quyết định 171/2004/QĐ-TTg (2004) phê duyệt đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ... Nhờ vậy, ngành nông nghiệp đã có cơ hội xây dựng tiềm lực KHCN với hàng chục Viện nghiên cứu chuyên ngành, đội ngũ nhiều nhà khoa học trình độ cao đủ sức tiếp cận những công nghệ cao và mới nhất của thế giới. Chính lực lượng này đã góp phần quan trọng tạo nên những biến đổi kỳ diệu của nông nghiệp nước nhà trong 20 năm đổi mới, đưa Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực thành nước xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hồ tiêu, chè.... Có thể nói, trong thời kỳ đổi mới, chính nông nghiệp đã làm rạng danh đất nước trên trường Quốc tế, là tiền đề quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, KHCN nông nghiệp của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, của tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Tốc độ phát triển nông nghiệp đang có xu hướng chững lại. Những động lực được phát động trong thời kỳ đổi mới có chiều giảm sút. Do vậy, để KHCN thực sự là điểm tựa của sản xuất và là động lực chính của phát triển kinh tế chúng ta cần phải đổi mới cơ chế quản lý khoa học mà trước hết là tổ chức lại hệ thống nghiên cứu. Theo định hướng trên, ngày 9 tháng 9 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 930/QĐ-TTg phê duyệt đề án sắp xếp hệ thống tổ chức Khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quyết định số 220/2005/QĐ-TTg thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS). Đây là những quyết định quan trọng, định hướng lại về tổ chức và nghiên cứu của hệ thống các Viện nghiên cứu thuộc Ngành nông nghiệp. Nhìn lại lịch sử phát triển của hệ thống nghiên cứu khoa học nông nghiệp từ những ngày đầu của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng khoa học và công nghệ nông nghiệp. Ngay từ năm 1952, bằng Nghị định số 1-CN-QT-ND ngày 9 tháng 2 năm 1952, Bộ Canh nông đã thành lập Viện Trồng trọt. Với nhiều thay đổi cho phù hợp nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử, Viện khoa học nông nghiệp ngày nay đã được hình thành trên cơ sở của nhiều Viện, đặc biệt là Viện Khoa học nông nghiệp (1963) và Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1977). Hiện nay, Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam bao gồm 10 đơn vị thành viên (các Viện: Di truyền Nông nghiệp, Thổ nhưỡng nông hoá, Bảo vệ thực vật, Cây lương thực và cây thực phẩm, Nghiên cứu rau Quả, Nghiên cứu ngô, Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ và Trung tâm Tài nguyên thực vật). Đến 2008 sẽ có thêm 4 đơn vị thành viên nữa. Tại thời điểm này, Viện có 5 Giáo sư, 24 Phó giáo sư, 142 Tiến sỹ và tiến sĩ khoa học, 303 Thạc sỹ và 911 cán bộ có trình độ đại học trong tổng số 1765 biên chế. Việc thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thực sự là một bước tiến mang tính quyết định trong việc nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học thông qua tập trung trí tuệ, cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm giải quyết những vấn đề lớn mà thực tiễn sản xuất nông nghiệp đang đặt ra; tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao đồng thời cũng góp phần khắc phục tình trạng dàn trải và chồng chéo gây lãng phí trong đầu tư của Nhà nước. Để đáp ứng yêu cầu của tiến trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá Nông nghiệp Nông thôn, Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam sẽ tập trung mọi nguồn lực để góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại Hội của Bộ Nông nghiệp và PTNT là "Xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá mạnh, đa dạng và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh; áp dụng khoa học công nghệ, làm ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường Quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn; tăng nhanh thu nhập và đời sống của nông dân; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp". Căn cứ mục tiêu chung này, Viện khoa học nông nghiệp sẽ tập trung vào 3 chiến lược chính sau đây: 1. Nghiên cứu góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, an ninh lương thực cấp hộ gia đình, tiến tới an ninh dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. 2. Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ để phát triển sản phẩm xuất khẩu chủ lực, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, kể cả năng lực cạnh tranh về giá và chất lượng nông sản. 3. Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích, cải thiện thu nhập của hộ nông dân. Nhằm thực hiện các chiến lược nêu trên, các nhà khoa học của Viện sẽ tập trung vào các nội dung sau đây: - Trước hết, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu sử dụng ưu thế lai trong chọn, tạo giống cây trồng, coi đây là hướng đột phá để nâng cao năng suất sinh học và chất lượng nông sản. Ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học mà trước hết là công nghệ gen, công nghệ tái tổ hợp ADN, chỉ thị phân tử ...trong mối quan hệ hài hoà với công nghệ truyền thống để phục vụ công tác chọn tạo giống mới. - Đánh giá và khai thác hiệu quả tài nguyên di truyền bản địa. Thực hiện bảo tồn thông qua phát triển các loài cây trồng có chất lượng cao. Đẩy mạnh nhập nội nguồn gen từ nước ngoài nhằm tạo ra nguồn vật liệu di truyền phong phú để tạo giống có nhiều đặc tính di truyền tốt, phù hợp với đặc điểm sinh thái cũng như thị hiếu của thị trường. - Cùng với chọn tạo giống, tập trung nghiên cứu kỹ thuật quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) nhằm phát huy tiềm năng giống, trong đó đặc biệt ưu tiên biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư (phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, giống...), tiết kiệm nước (kể cả đối với lúa nước), giảm chi phí lao động trên 1 đơn vị sản phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch. Ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám và GIS để nghiên cứu dự báo và phát hiện các dịch bệnh mới và đề xuất giải pháp xử lý kịp thời. - Chúng ta biết rằng, Việt Nam đất chật, người đông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người chỉ bằng 29,6% trung bình của thế giới. Thêm nữa, do CNH, đô thị hoá mà 5 năm qua chúng ta đã mất thêm 340.000ha đất lúa. Do vậy, bài toán sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp hiện có thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tăng vụ một cách phù hợp cần được quan tâm; đồng thời nghiên cứu cơ sở khoa học để khai thác vùng đất hoang hoá duyên hải miền Trung theo hướng nông, lâm nghiệp và chăn nuôi, nông nghiệp sinh thái sẽ được quan tâm. Phát triển nguồn thức ăn xanh trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất cũng là một hướng đi để nâng cao tỉ trọng chăn nuôi. - Do thâm canh cao lại thiếu hệ thống quản lý đồng bộ nên chất lượng nông sản, đặc biệt là rau đang là mối quan ngại của cả cộng đồng. Hiện tại, tại 6 tỉnh đồng bằng sông Hồng chỉ có 6% diện tích rau an toàn. Do vậy, nghiên cứu phân vùng sản xuất và quản lý cây trồng tổng hợp để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm cũng sẽ là nội dung nghiên cứu ưu tiên. - Do thâm canh cao lại thiếu hệ thống quản lý đồng bộ nên chất lượng nông sản, đặc biệt là rau đang là mối quan ngại của cả cộng đồng. Hiện tại, tại 6 tỉnh đồng bằng sông Hồng chỉ có 6% diện tích rau an toàn. Do vậy, nghiên cứu phân vùng sản xuất và quản lý cây trồng tổng hợp để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm cũng sẽ là nội dung nghiên cứu ưu tiên. - Xu thế phát triển sẽ làm cho dân số nông nghiệp giảm đi, do vậy phát triển đô thị trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao cần được nghiên cứu, đảm bảo về kỹ thuật phải phù hợp trình độ lao động và khả năng đầu tư; còn về hiệu quả phải đảm bảo có sức cạnh tranh cao. - Hiện tại, tổn thất sau thu hoạch với lúa là 12-13%, với rau, quả tới 25-30%. Như vậy giảm tổn thất sau thu hoạch sẽ cho hiệu quả cao và nhanh hơn nhiều so với đầu tư để tạo ra một giống mới. Đó là chưa kể tổn thất về chất lượng thì chưa tính được. Vì vậy, Viện sẽ phối hợp với các đơn vị khác để nghiên cứu hạn chế tổn thất sau thu hoạch, trong đó ưu tiên nghiên cứu công nghệ bảo quản nhất là với rau và quả. Việc nghiên cứu xử lý sau thu hoạch phải được tiến hành ngay từ giai đoạn sản xuất cùng với xác định thời điểm thu hoạch phù hợp. - Môi trường nông nghiệp và nông thôn đang ngày bi ô nhiễm trầm trọng, do vậy Viện sẽ đẩy mạnh nghiên cứu xử lý phế thải bằng công nghệ vi sinh vật, sản xuất thuốc BVTV sinh học, thuốc có nguồn gốc thảo mộc; nghiên cứu sử dụng thiên địch, phân vi sinh vật chức năng. Nghiên cứu sử dụng hiệu quả phế phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất thực phẩm (nấm), thức ăn chăn nuôi và phân bón hữu cơ. - Phối hợp nghiên cứu mô hình tổ chức và xu thế phát triển của nông hộ, các loại hình liên kết; chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Nhằm định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, cần nghiên cứu lợi thế so sánh của các ngành hàng chính trong mối quan hệ với các nước xuất khẩu có chung mặt hàng với Việt Nam. Để thực hiện có hiệu quả các nội dung trên, những giải pháp cơ bản sau đây sẽ được triển khai: Về tổ chức, sẽ xắp xếp những bộ phận chồng chéo, giảm tối đa số cán bộ lãnh đạo, gián tiếp, thu hẹp nhiệm kỳ giữ chức vụ của cán bộ quản lý. Trong nghiên cứu sẽ tập trung xây dựng chiến lược, nâng cao chất lượng công tác kế hoạch. Hình thành nhóm nghiên cứu tập hợp các nhà khoa học phù hợp trong lĩnh vực đề tài từ tất cả các đơn vị để đảm bảo thực hiện có hiệu quả nhất. Nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả nghiên cứu, do vậy tập trung đào tạo thông qua thực hiện đề tài, dự án, nhất là các dự án hợp tác quốc tế. Chỉ có con người với tư duy được trang bị kiến thức mới, cập nhật với thành tựu KHCN thế giới, biết cần phải làm gì và làm như thế nào mới có thể đảm bảo nghiên cứu hiệu quả. Trong đào tạo sau đại học, gắn đào tạo với nghiên cứu. Kết hợp chặt chẽ với các trường Đại học để triển khai nghiên cứu và đào tạo nguồn lực theo hướng kiêm nhiệm. Hợp tác Quốc tế sẽ vẫn là giải pháp hiệu quả trong tiếp cận công nghệ mới, do vậy đẩy mạnh HTQT không chỉ cho phép đi tắt đón đầu trong phát triển công nghệ mà còn tạo điều kiện cho cán bộ khoa học được học tập phương pháp nghiên cứu tiên tiến, nâng cao năng lực ngoại ngữ-công cụ quan trọng cho tiếp cận với kho tri thức khổng lồ của nhân loại. Viện sẽ coi việc tranh thủ chuyên gia nước ngoài là giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình đi tắt đón đầu trong tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới. Hiệu quả của nghiên cứu chỉ được chứng minh trong sản xuất, được nông dân đón nhận, do vậy Viện sẽ chủ động phối hợp chặt chẽ với hệ thống khuyến nông. Sự kết hợp này không chỉ để chuyển giao nhanh hơn kết quả nghiên cứu vào sản xuất mà còn tạo điều kiện tiếp thu nhu cầu của thực tiễn nhằm điều chỉnh kế hoạch nghiên cứu phù hợp. Ngoài ra, việc phát hiện, thu thập, đánh giá và chọn lọc các giống, kỹ thuật mới do nông dân phát triển cũng sẽ được quan tâm, coi đây là nguồn tiến bộ kỹ thuật bổ sung quan trọng. Tại các Viện Vùng, sẽ xây dựng các khu trình diễn kỹ thuật mới để sản xuất lựa chọn. Thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP (5/9/2005) qui định cơ chế về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập, Viện sẽ xây dựng phương án chuyển đổi những bộ phận phù hợp; đồng thời cũng kiến nghị Chính phủ xem xét đến đặc thù của nông nghiệp trong triển khai Nghị định. Viện KHNN Việt Nam tổ chức lễ ra mắt nhằm khẳng định ý chí của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và các nhà khoa học thuộc nhiều thế hệ của Viện quyết tâm đưa Viện KHNN Việt Nam lên một tầm cao mới, tổ chức nghiên cứu hiệu quả hơn, nâng cao hơn nữa tỉ trọng đóng góp của KHCN trong tăng trưởng của sản xuất, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đồi sống nông dân, tạo điều kiện cho thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn một cách thắng lợi. Viện KHNN Việt Nam đang đứng trước cơ hội mới để nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nghiên cứu tổng hợp, giải quyết các vấn đề lớn của nông nghiệp; song Viện cũng đứng trước nhiều thách thức do cán bộ trình độ cao ngày càng giảm, chiến lược nghiên cứu trong mối quan hệ với hội nhập chưa được xác định một cách rõ ràng. Thêm nữa, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ phải làm sao hài hoà được với tập trung đầu mối để không làm giảm đi tính sáng tạo của các nhà khoa học, để khoa học tiếp tục phát triển. Do vậy, Viện KHNN Việt Nam mong thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Khoa học công nghệ và các Bộ, Ngành liên quan khác để Viện đi đúng hướng và hoạt động hiệu quả.
 
Các tin tức khác [Quay về] 
 
     Hội nghị Tổng kết công tác năm 2018 và triển khai kế hoạch năm 2019 của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam    (17/01/2019 | 4764)
     Lễ Công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Viện trưởng – Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố.    (18/05/2018 | 1463)
     Gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Mậu Tuất 2018    (06/02/2018 | 1320)
     Hội nghị tổng kết công tác năm 2017 và kế hoạch triển khai công tác năm 2018    (06/01/2018 | 1273)
     Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Giám Đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam    (24/10/2017 | 2440)


  :: TIN MỚI NHẤT
Tám tấn xoài đầu tiên của Việt Nam sẽ được xuất sang Mỹ
Chương trình mỗi xã một sản phẩm đóng góp quan trọng tái cơ cấu nông nghiệp
Nghiên cứu làm sáng tỏ bệnh hại nguy hiểm ở hoa hồng
Đoàn Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc thăm và làm việc với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
Bến Tre: Giảm 30% lượng phân bón nhờ mô hình tưới tiết kiệm tích hợp thiết bị hút phân tự động

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Điều khiển sự ra hoa của cây Thanh Long
Mộc Châu sản xuất các loại nông sản có giá trị hàng hóa cao
Sai lầm nguy hiểm thường gặp khi cầm vô lăng ô tô
Một số hình ảnh bệnh hại sắn ở Hà Tĩnh năm 2019
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Nguyễn Hồng Sơn

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 84.24.38615487;  Fax: 84.24.38613937.