Tin nội bộ > Trang tin Hành chính
 
 
 
 
Hội nghị tổng kết hoạt động 2007 và kế hoạch 2008
Ngày đăng: 16/12/2007       Số lượt xem: 2277       Người đăng: admin
 
Ngày 14 tháng 12 năm 2007 Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2007 và kế hoạch 2008, đến dự có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT - Cao Đức Phát, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng; các Cục, Vụ chức năng, Thanh tra, Văn phòng và Ban quản lý các Dự án Nông nghiệp, toàn thể lãnh đạo các Viện thành viên và cán bộ trong Viện. Sau 2 năm đi vào hoạt động kể từ khi thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sáp nhập 10 Viện và trung tâm, thêm nữa việc phải chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động theo Nghị định 115 ngay trong cùng thời gian cũng tạo thêm những băn khoăn, lo lắng. Song, với sự cố gắng của tập thể, sự chỉ đạo thường xuyên và hiệu quả của các cấp lãnh đạo, địa phương, mà Viện đã vượt qua nhiều khó khăn để đạt được một số kết quả quan trọng. Công tác tổ chức và cán bộ: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hiện nay có 10 đơn vị nghiên cứu, 5 ban chức năng. Tại các đơn vị trực thuộc có 28 phòng nghiệp vụ; 51 bộ môn nhiên cứu, 48 đơn vị sự nghiệp khác; 5 doanh nghiệp. Tổng số biên chế hiện tại là 1770 người (1 Giáo sư, 21 Phó Giáo sư, 88 Tiến sĩ; 277 thạc sĩ; 754 cán bộ có trình độ đại học và 628 kỹ thuật, nhân viên). Công tác tổ chức của Viện cơ bản đã hoàn thiện trong nửa đầu năm 2006 với việc trình Bộ trưởng qui định chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện và các đơn vị trực thuộc. Điều lệ hoạt động của Viện đã được phê duyệt. Để tăng cường hiệu lực quản lý, Bộ trưởng cũng đã phân cấp cho Giám đốc Viện thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng. Cho đến nay, theo các Quyết định chỉ còn 2 Doanh nghiệp vì các lý do khách quan (Công ty tư vấn đầu tư và Phát triển cây lương thực CTP của Viện Cây LT-CTP và Công ty Sinh học nông nghiệp Văn Giang thuộc Viện Di truyền nông nghiệp) chưa được thành lập. Xác định vai trò quan trọng của sự nghiệp bảo vệ môi trường, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng, Viện đã chủ động xây dựng đề án thành lập Viện Môi trường nông nghiệp. Đề án đã được Bộ thẩm định, các Bộ, Ngành liên quan cho ý kiến góp ý và đã trình Thủ tướng Chính phủ từ tháng 8 năm 2007. Năm 2007 Viện đã phối hợp với Vụ tổ chức cán bộ phân bổ, giao chỉ tiêu biên chế trên cơ sở điều chỉnh mạnh giữa các đơn vị căn cứ vào nhiệm vụ và tăng cường rất lớn cho các đơn vị mới thành lập, đặc biệt là tại các Viện Vùng. Có đơn vị trong 2 năm biên chế tăng gấp 2 lần. Năm 2006 tuyển dụng được 79 và năm 2007 tuyển dụng được 47 viên chức. Có một tồn tại là tuyển dụng số lượng lớn trong một thời gian sẽ khó có điều kiện lựa chọn sinh viên suất sắc, sau này sẽ tạo áp lực về thay thế, bổ sung thường xuyên hàng năm. Về công tác cán bộ, Viện đã phối hợp chặt chẽ cùng Vụ TCCB trình Bộ trưởng bổ nhiệm bổ sung Phó Giám đốc VAAS, bổ nhiệm Viện trưởng của các Viện: Di truyền nông nghiệp, Viện Bảo vệ thực vật và Nghiên cứu Rau quả. Giám đốc Viện đã bổ nhiệm 01 Trưởng Ban (Tài chính), 02 Phó Viện trưởng (Viện Thổ nhưỡng nông hoá và Viện nghiên cứu Ngô). Số lượng cán bộ lãnh đạo và quản lý của toàn Viện tính đến ngày 30/10/2007 là 276 người (chiếm tỷ lệ 15% tổng số biên chế của Viện). Như vậy, tỉ lệ này là còn quá cao, cần phải tiếp tục giảm xuống. Về chính sách tiền lương, đến nay, Viện đã ban hành Quy chế nâng lương trước thời hạn và các văn bản liên quan để làm căn cứ cho việc xét nâng lương. Đợt 1 năm 2007, Viện đã làm thủ tục nâng lương thường xuyên và trước thời hạn cho 315 viên chức. Viện đã và đang làm thủ tục đề nghị Bộ chuyển, nâng ngạch cho khoảng 40 cán bộ đủ điều kiện theo qui định (năm 2006, Bộ đã chuyển 52 nghiên cứu viên lên nghiên cứu viên chính, kỹ sư lên kỹ sư. Về công tác quy hoạch cán bộ, Viện đã hoàn thành quy hoạch cán bộ lãnh đạo cho năm 2007 và đang rà soát qui hoạch cho giai đoạn 2007-2010. Về đào tạo viên chức, Viện đã tận dụng mọi nguồn kinh phí để đào tạo sau đại học và đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Hiện nay, Viện có 88 người đang làm luận văn tiến sĩ (32 người tại nước ngoài) và 113 người đang theo học cao học (23 người ở nước ngoài). Ngoài ra, có hàng trăm người đi tấp huấn ngắn hạn về công nghệ sinh học, quản lý tài nguyên, công nghệ hạt giống.... Viện cũng đã cử 09 cán bộ trong diện quy hoạch tham dự đào tạo về lý luận chính trị cao cấp Công tác xây dựng chiến lược và quy chế quản lý khoa học: Để hoạt động của Viện có định hướng dài hạn, được sự chỉ đạo của Bộ, Viện đã tổ chức xây dựng Chiến lược 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020. Bản dự thảo đã được tập hợp từ 40 chuyên đề do các đơn vị chuẩn bị, được Hội đồng Khoa học góp ý, hoàn thiện và đã trình Bộ để phê duyệt. Hiện nay, Viện đang chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng chiến lược hoạt động căn cứ vào chiến lược chung. Công tác xây dựng kế hoạch. Ngay từ đầu năm 2006, cho dù đang giữa kỳ kế hoạch song Viện đã phối hợp với Vụ Khoa học công nghệ và Lãnh đạo các đơn vị rà soát lại nhiệm vụ, loại bỏ hoặc hợp nhất các đề tài trùng lặp, làm rõ hơn mục tiêu, sản phẩm, địa bàn và phương pháp thực hiện, phân công nhiệm vụ cụ thể và sản phẩm tương ứng cho từng cá nhân, đơn vị tham gia đề tài. Hầu hết các đề tài mới đưa vào kế hoạch 2006 và 2007 đã được xây dựng theo khung lôgic nên không chỉ dễ trong thẩm định nội dung mà còn đơn giản hơn khi phê duyệt dự toán. Trong xây dựng kế hoạch, Viện đã chỉ đạo hình thành nhóm chuyên gia tập trung những cán bộ có chuyên môn tốt nhất liên quan đến đề tài từ nhiều đơn vị trong và ngoài VAAS, đặc biệt là gắn với Viện vùng để vừa gắn các kết quả trong phòng thí nghiệm với điều kiện sinh thái cụ thể, vừa đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Kinh phí cho đề tài cấp cơ sở đã được điều chỉnh đáng kể, theo hướng tăng kinh phí để giải quyết các vấn đề lớn hơn, ít dàn trải hơn (năm 2006, với 116 nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở, kinh phí trung bình là 54 triệu đ/đề tài và năm 2007, tương ứng là 92 và 112 triệu đồng/đề tài. Hy vọng, sau năm 2008 số lượng đề tài sẽ tập trung hơn, qua đó tập trung được nguồn lực và liên kết hiệu quả hơn. Qua 2 năm vận hành cơ chế này công tác kế hoạch đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là chất lượng đề cương được nâng lên, tiến độ phê duyệt nhanh hơn. Tuy nhiên do một số đơn vị và chuyên viên quản lý một số cấp vẫn còn đôi lúc vận hành theo cơ chế cũ, thiếu sự hợp tác chặt chẽ với VAAS nên gây ra một số trục trặc trong các khâu kế hoạch và nghiệm thu; một số chủ nhiệm đề tài chưa tuân thủ quy định trong khâu chuẩn bị đề cương và dự toán, làm chậm tiến độ phê duyệt. Một trong những điểm nổi bật của công tác kế hoạch là mọi đề xuất nhiệm vụ mới đều được thông qua Hội đồng tư vấn nên nhiệm vụ đặt ra đáp ứng tốt hơn định hướng và yêu cầu của Ngành. Để chuẩn bị cho tham gia tuyển chọn các nhiệm vụ cấp Bộ, cấp Nhà nước Viện chủ động phân công cán bộ và đơn vị chủ trì, hình thành nhóm chuyên gia ngay từ khâu xây dựng đề cương và tổ chức góp ý nên chất lượng hồ sơ không những được nâng nên mà còn rất hiệu quả khi triển khai thực hiện. Công tác KHCN khác. Xác định kiểm tra là một trong những nội dung trọng tâm của công tác quản lý nên Viện hướng dẫn nội dung và chỉ đạo các đơn vị chủ động kiểm tra, mặt khác Viện phối hợp với Vụ KHCN thành lập các đoàn kiểm tra kết quả thực hiện đề tài, dự án trọng điểm. Cách làm này tránh được kiểm tra trùng chéo, tiết kiệm và hiệu quả. Năm 2007, Viện đã phối hợp tổ chức được 20 đợt kiểm tra. Một điểm đáng lưu ý là tại các địa phương, Lãnh đạo Sở KHCN, Sở Nông nghiệp, Trung tâm khuyến nông được mời tham gia, góp ý để kết quả nghiên cứu có thể đi nhanh hơn vào sản xuất. Viện đã chỉ đạo các đơn vị hàng năm tổ chức đánh giá và nghiệm thu giữa kỳ toàn bộ các nhiệm vụ.Với các đề tài kết thúc được tổ chức nghiệm thu 2 cấp: cấp cơ sở tại đơn vị thực hiện và cấp cuối cùng tại đơn vị chủ quản. Đến nay toàn bộ các nhiệm vụ kết thúc 2006 và một số trong năm 2007 đã được nghiệm thu kịp thời. Một số kết quả nghiên cứu nổi bật. Nghiên cứu cơ bản: - Tiếp tục ứng dụng chỉ thị phân tử trong nghiên cứu đa hình di truyền, đánh giá nguồn gen như lúa, ngô, lạc, hoa, nấm ăn và nấm dược liệu, ớt, cà chua và lập bản đồ phân tử các gen ở cây lúa cho các tính trạng như đạo ôn, rầy nâu, bạc lá. - Thiết kế được 01 vectơ mang gen vỏ protein virus gumboro, 02 vectơ chuyển gen mang gen kháng sâu pADT1 và pADT2 và tạo được 4 chủng vi khuẩn Agrobacterium mang 2 vectơ chuyển gen pADT1 và pADT2. Xác định được 2 chủng Agrobacterrium thích hợp cho chuyển gen nguyên cây và callus ở giống bèo Lemna aequinoctialis. Đã tạo được 01 dòng E.coli mang gen mã hóa kháng nguyên H5N1 và hoàn thiện 01 quy trình tái sinh ở giống bèo Spirrodela. Những kết quả này sẽ tạo ra khả năng sản xuất vắc xin qua đường miệng thay thế tiêm chủng, vừa hạ giá thành vừa có khả năng ứng dụng rộng rãi cho cả người và thuỷ cầm hoang dại. - Thông qua dự án DA15 đã xây dựng qui trình nhân nhanh in-vitro một số giống hoa Lili, hồng môn, qui trình nhân nhanh hoa đồng tiền bằng phương pháp nuôi cấy lớp cắt mỏng. - Đã chọn lọc và nuôi cấy invitro được 7 chủng nấm Sò, chọn ra được 2 chủng nấm Sò chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. - Đã nghiên cứu, phân lập và tuyển chọn được nhiều chủng vi sinh vật có ích để sản xuất phân bón vi sinh và chế phẩm phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Cụ thể là các chế phẩm chứa vi sinh vật phân giải lân, phân giải cellulose để tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng và những chế phẩm chăm sóc cây trồng khác như phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn trên cà chua, khoai tây. - Năm 2007 ngân hàng gen đã cấp 458 nguồn gen cùng các thông tin liên quan cho các cơ quan, địa phương, cá nhân có nhu cầu sử dụng, bao gồm 314 nguồn gen sử dụng trong các chương trình chọn tạo giống (của Viện Di truyền nông nghiệp, Viện Công nghệ sinh học, Đại học Sư phạm I Hà Nội, ...). - Xây dựng quy trình quản lý dinh dưỡng đối với một số cây rau (cà chua, dưa chuột) và hoa (đồng tiền, hoa hồng, ly ly, phong lan) trong nhà lưới theo hướng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện miền Bắc Việt Nam. - Hoàn thiện các quy trình phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng như quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh lúa vàng lùn, lùn xoắn lá và rầy nâu, quy trình phòng trừ tổng hợp cây trinh nữ thân gỗ, quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh thối nõn dứa, bệnh hại mía, sâu hại cói họ vòi voi, ... Bước đầu đã thành công trong xây dựng phần mềm dự tính dự báo sự phát sinh phát triển của rầy nâu tại Thái Bình. - Đã xây dựng xong dự thảo: “Quy định khảo nghiệm quản lý rủi ro và cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học cho cây trồng biến đổi gen”, “Chương trình nông nghiệp tốt-VietGAP” đang hoàn thiện văn bản trình Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt. Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng: Năm 2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức: giống lúa Khang Dân đột biến, giống lúa CL9, giống vải chín sớm Bình Khê, Giống chuối tiêu vừa Phú Thọ, giống ngô lai đơn LVN98, LVN145, giống hoa hồng VR2, giống ớt cay HB9, giống dưa chuột lai CV5, giống đậu tương ĐV5. Công nhận tạm thời 03 giống ngô (LVN61, LVN885 và LVN14). Rất nhiều giống cây trồng khác đang quá trình thử nghiệm, hoàn thiện thủ tục trình Bộ công nhận. Dưới đây là đặc điểm các giống đã được công nhận năm 2007: Giống lúa Khang Dân đột biến, giống ngô lai đơn LVN9, giống ngô lai đơn LVN145, giống ngô lai đơn LVN61, giống ngô lai đơn LVN885, giống ngô lai đơn LVN14, giống vải chín sớm Bình Khê, giống d­ưa chuột lai CV5, giống ớt cay HB9, giống hoa Hồng VR2. Biện pháp kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến: Đã nghiên cứu thành công kỹ thuật xử lý hóa chất làm giảm số hạt trên cam Xã Đoài và thụ phấn bổ sung làm tăng tỷ lệ đậu quả, nâng cao năng suất của giống bưởi Phúc Trạch; Hoàn thiện biện pháp kỹ thuật ghép cải tạo cho nhãn, vải, xoài. Hoàn thiện được các biện pháp kỹ thuật canh tác rau theo hướng ứng dụng công nghệ cao, tạo sản phẩm an toàn theo các quy trình công nghệ canh tác NFT và RtW. Hoàn thiện được quy trình uốn vít cành nâng cao năng suất và chất lượng hoa hồng; quy trình kỹ thuật canh tác, điều khiển thời gian nở hoa của các giống hoa lily. Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hạt lai của giống dâu lai VH13; kỹ thuật nuôi tằm tập trung theo 2 giai đoạn. Đã xây dựng được 2 qui trình công nghệ sản xuất dâu lai F1 bằng hạt với hệ số nhân giống đạt 200kg/ha, giảm chi phí được 12 - 15 triệu đồng/1ha so với kỹ thuật trồng dâu bằng hom giâm; biện pháp kỹ thuật nuôi tằm tập trung theo 2 giai đoạn đã cho thu nhập đạt xấp xỉ 0,5 triệu đồng lãi/1 vòng trứng, cho hiệu quả kinh tế cao hơn xấp xỉ 80% so biện pháp kỹ thuật nuôi tằm truyền thống. Hoàn thiện thành công 6 quy trình phòng trừ tổng hợp dịch hại cho nhiều đối tượng cây trồng: Quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và rầy nâu môi giới truyền bệnh, quy trình phòng trừ tổng hợp cây trinh nữ thân gỗ, quy trình phòng trừ tổng hợp sâu róm thông sớm từ ổ phát sinh dịch, quy trình phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại mía, quy trình sử dụng bẫy Pheromone dự báo sâu khoang, sâu xanh hại rau màu, quy trình xác định tính kháng bệnh gỉ sắt đậu tương. Kết quả chuyển giao và mở rộng TBKT đã được công nhận năm 2006: Về cây ăn quả, kỹ thuật xử lý ra hoa rải vụ dứa đang được áp dụng rộng rãi tại các vùng trồng dứa cayen tập trung tại Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An với tổng diện tích đạt trên 1.500 ha. Xây dựng được trên 30 ha mô hình ghép cải tạo các giống nhãn, vải tại các địa phương: Bắc Giang, Hải Dương, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Hà Tây. Đã xây dựng vùng sản xuất vải thiều an toàn với diện tích là 30ha (năm 2006), 350ha (năm 2007) tại Lục Ngạn Bắc Giang. Hoàn thiện quy trình GAP cho sản xuất vải thiều, xây dựng thương hiệu và kết hợp với doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm cho người tiêu dùng. Quy trình ghép cải tạo vườn xoài năng suất thấp làm tăng năng suất từ 1,5 - 2,5 lần. Kỹ thuật cắt tỉa sau thu hoạch và điều khiển ra hoa cho giống xoài GL6 trồng một số tỉnh miền Bắc (Phú Thọ, Nghệ An, Sơn La) có hiệu quả rõ, năng suất đạt 24 tấn/ha, cao hơn sản xuất 5 - 6 lần. Về cây rau, đã chuyển giao kỹ thuật xây dựng vùng sản xuất rau an toàn với diện tích 5ha tại Bắc Ninh và Vĩnh Phúc, 2 ha tại Đông Anh - Hà Nội, năm 2007 đã ký hợp đồng với 1 số cơ sở sản xuất cấp chứng chỉ sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP. Rau an toàn thương hiệu Viện Bảo vệ thực vật đã được người tiêu dùng Hà Nội biết đến trong nhiều năm nay. Trên 500 ha sản xuất rau an toàn tại các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc và Hà Tây đã được triển khai. Kỹ thuật ghép cà chua trên gốc cà tím đã được ứng dụng trên qui mô 50 ha tại Hải Phòng; Về cây công nghiệp, đã thành công trong xây dựng mô hình sản xuất giống chè mới trên qui mô vài chục ha tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Điện Biên, năng suất bình quân 18 tấn/ha; mô hình canh tác tiên tiến trên giống chè PH1 năng suất đạt 30 tấn/ha; mô hình trình diễn vườn ươm nhân giống chè bằng giâm cành qui mô 0,5 - 3 ha... 2 giống cà phê TN1, TN2 đã được công nhận tạm thời đang phối hợp với Viện KHKTNLN Tây nguyên để thử nghiệm tại Sơn la. Nhiều mô hình trồng hoa chất lượng cao tại Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Hà Nam... được xây dựng trên cơ sở Viện chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp đầu tư. Biện pháp kỹ thuật nuôi tằm theo hai giai đoạn đã được chuyển giao, xây dựng mô hình tại các tỉnh Yên Bái, Vĩnh Phúc, Nam Định và Hà Nam với quy mô trên 1,0 vạn vòng trứng của các giống tằm mới được chọn tạo và công nhận giống. Các mô hình phòng trừ tổng hợp rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá hại lúa tại Long An, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang làm tăng năng suất lúa lên 20% so với đối chứng, giảm 1/3 số lần phun thuốc. Nghiên cứu thành công và chuyển giao vào sản xuất các chế phẩm phòng trừ dịch hại như thuốc thảo mộc trừ ốc bươu vàng BOURBO 8.3BR, TICTACK 13.2BR, bả Protein trừ ruồi hại quả (Entopro), chế phẩm Pheromone trừ sâu tơ, sâu khoang hại rau trên quy mô hàng nghìn hecta ở nhiều địa phương Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong cơ cấu cây trồng có lúa cho phép giảm sử dụng phân khoáng từ 10-20% và tăng lợi nhuận 5-12 % đang được áp dụng tại Hà Tây, Thanh Hoá, Đắc Lắc, Cần Thơ. Thương mại hoá các sản phẩm: Nhằm chuyển giao nhanh kết quả vào sản xuất, được sự khuyến khích của Bộ, Viện đã mạnh dạn chủ trương chuyển giao bản quyền một số kết quả nghiên cứu cho các Doanh nghiệp. Năm 2007 đã chuyển giao bản quyền giống Khang dân đột biến cho Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương. Đây là giống có thể thay thế 20 – 25% giống Khang Dân 18 của Trung Quốc. Ngoài ra, hai giống lúa lai HYT 100 và HYT104 đã đàm phán với Công ty đại Dương (100% vốn của Trung Quốc) mua bản quyền sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam, nhưng bố mẹ vẫn do VAAS quản lý. Hiện nay thủ tục đã trình Bộ và chờ ý kiến chỉ đạo. Công tác hợp tác quốc tế HTQT luôn luôn là một hoạt động được Viện rất chú trọng củng cố và tăng cường. Toàn Viện đã thu hút và đang triển khai 57 dự án HTQT với tổng số vốn kế hoạch tương đương 66,498 tỷ đồng Việt Nam (chưa trừ phần quốc tế và các đơn phị phối hợp sử dụng). Hiện tại, các đơn vị thuộc Viện đang có quan hệ hợp tác trong các dự án với 19 quốc gia, vùng lãnh thổ và 8 tổ chức quốc tế. Thông qua các tổ chức như ACIAR, AusAID, Úc đang tài trợ 12 dự án nghiên cứu thuộc các lĩnh vực chọn tạo giống, sản xuất rau. Các nước có mối hợp tác truyền thống với các đơn vị trực thuộc Viện như Thụy Điển, Pháp cũng đang tích cực hỗ trợ công tác nghiên cứu và phát triển nông nghiệp. Thụy Điển đang tài trợ 6 dự án trong lĩnh vực công nghệ sinh học và hệ thống nông nghiệp. Các đối tác của Pháp (CIRAD và IRD) đang có 5 dự án hợp tác về lĩnh vực phát triển ngành hàng và phát triển nông nghiệp. Mối quan hệ hợp tác giữa Viện với các đối tác Hoa Kỳ cũng đang được thúc đẩy với 5 dự án nhỏ thuộc các lĩnh vực bảo tồn nguồn gen qui mô hộ gia đình, phát triển sản xuất rau, đậu tương. Hợp tác với Hàn Quốc có 2 dự án với kinh phí đạt trên 1 triệu đô la. Về hợp tác quốc tế theo Nghị định thư, có 4 đề tài, trong đó Viện DTNN có 2 đề tài hợp tác với Bungari và CHLB Đức, Viện BVTV có 2 đề tài hợp tác với Viện KHNN Hàn Quốc và Đại học Cornell Mỹ. Trong hai năm 2006-2007, Viện đã ký Biên bản ghi nhớ hợp tác khoa học công nghệ với đối tác thuộc nhiều nước khác nhau, như Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Vân Nam và Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Quảng Đông Trung Quốc, Đại học Missouri Hoa Kỳ, Đại học Griffith Úc, Trường Đại học Chung Tsing-Đài Loan…Viện cũng đã đón tiếp và làm việc với nhiều đoàn khách quốc tế. Viện phối hợp với các tổ chức Quốc tế tổ chức nhiều Hội nghị, Hội thảo về CNSH, về công nghệ Nano, về vệ sinh an toàn thực phẩm, về công nghệ sản xuất lúa tiên tiến... Năm 2007, Viện đã ký hợp đồng làm việc với TS Nguyễn Quốc Vọng, việt kiều Úc. Qua 6 tháng làm việc, anh Vọng đã giúp Viện triển khai được một số nội dung liên quan đến GAP, Vệ sinh an toàn thực phẩm, kết nối với một số tổ chức Quốc tế. Một số nội dung trong hợp đồng chưa triển khai sẽ được hoàn thiện trong nay mai là hình thành Trung tâm xuất sắc về Rau hoa quả, nâng cao chất lượng bản tin tiếng Anh và giúp đỡ trong đào tạo Sau đại học và đào tạo tiếng Anh. Công tác thông tin, tuyên truyền Công tác thông tin của Viện tập trung vào các nội dung lớn: Trang tin điện tử và tạp chí “Khoa học và công nghệ nông nghiệp”, Biên tập và xuất bản kỷ yếu Hội nghị khoa học 2006-2007. Một số số tạp chí giành cho các chuyên đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao như "Rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa", "Nông nghiệp công nghệ cao". 100% các đơn vị thuộc Viện đã ứng dụng công nghệ thông tin như: kết nối Internet, xây dựng mạng LAN phục vụ công tác quản lý điều hành và công tác chuyên môn. Tuyệt đại đa số văn bản của Viện được chuyển tải qua mạng. Có đơn vị đã tự thiết kế được phần mềm phục vụ cho công tác chuyên môn như: Phần mềm tin sinh học quản lý sinh vật biến đổi gen của Viện Di truyền NN, phần mềm dự tính dự báo phát sinh rầy nâu tại Thái Bình của Viện BVTV…. Về hoạt động thư viện, trong năm 2007, đã bổ sung 415 đầu sách và 41 tạp chí, đang xây dựng đề án xây dựng thư viện điện tử. Thư viện của các đơn vị tiếp tục duy trì và bổ sung được 1772 đầu sách các loại, có đơn vị đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thư viện và phối hợp chặt chẽ với các nguồn thông tin của các tổ chức Quốc tế và của Bộ. Viện đã chủ động tổ chức và điều phối các đơn vị tham gia nhiều đợt triển lãm: Triển lãm nông nghiệp tại Thanh Hoá (3/2007); Triển lãm về Giống cây trồng tại Hà Nội (5/2007); Triển lãm nông nghiệp quốc tế (AgroViet) tại Hà nội (9/2007) và tham gia Techmart tại Đà nẵng (9/2007). Kết thúc các đợt triển lãm 100% các đơn vị tham gia đều được Ban tổ chức cấp giấy khen. Công tác Đào tạo Sau Đại học Công tác đào tạo sau đại học của Viện đã hoạt động ổn định và phát triển. Hiện nay, Viện đang tập trung chỉ đạo để nâng cao chất lượng đào tạo thông qua đổi mới giáo trình giảng dạy, bổ sung đội ngũ giảng viên, nâng cao trình độ ngoại ngữ. Nội dung Viện đang làm quyết liệt nhất là thay đổi phương pháp đào tạo thay vì đọc chép chuyển sang hướng dẫn và viết chuyên đề, thảo luận và gắn đề tài luận án của NCS, học viên cao học với các đề tài trọng điểm. Hiện nay, hầu hết các đề tài đã được gắn kết với nhiệm vụ nghiên cứu, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng luận văn một cách đáng kể. Năm năm 2006 đã tuyển sinh được 15 NCS và 21 học viên cao học, tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cho 6 nghiên cứu sinh và luận văn cho 52 học viên cao học. Năm 2007 đã tuyển sinh 19 NCS và 39 học viên cao học, đã và sẽ bảo vệ luận án Tiến sĩ cho 15 nghiên cứu sinh và 46 luận văn cao học. Viện cũng vừa tổ chức thành công Lễ phát bằng Tiến sỹ cho 18 NCS và bằng thạc sỹ cho 141 học viên cao học. Công tác quản lý Tài chính, Tài sản Bộ máy kế toán của Viện có 91 người, trong đó trình độ Đại học: 43 người, Trung cấp trở xuống : 48 người được. Đã làm tốt công tác lập và duyệt dự toán, giao dự toán, thanh quyết toán xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng TSCĐ, thanh lý TSCĐ, công tác bàn giao, công tác quản lý và sử dụng đất đai. Công tác xây dựng cơ bản Thực hiện các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phân cấp quản lý về công tác xây dựng cơ bản, hiện nay Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thống nhất quản lý công tác quy hoạch tổng thể, công tác lập kế hoạch, tổng hợp báo cáo, cùng kiểm tra, giám sát chủ đầu tư thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản theo đúng quy định. Triển khai Nghị định 115/2005/NĐ-CP Do các văn bản hướng dẫn về tiêu chí tổ chức KHCN chậm được ban hành nên việc xây dựng đề án thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ có hơi chậm, song đến nay phần lớn Đề án của Viện đã được phê duyệt (Viện Ngô, Thổ nhường nông hoá, Nam Trung Bộ và Miền núi phía Bắc); 3 đơn vị đã thẩm định và trình Lãnh đạo Bộ ký. Chỉ còn 3 đơn vị chưa hoàn chỉnh thẩm định tại các Cục Vụ (Cây lương thực, Bảo vệ thực vật và Rau quả). Hiện tại Viện đang chuẩn bị cho việc thẩm định và phê duyệt đề án của các Trung tâm thuộc các đơn vị trực thuộc. Công tác Đảng, Công đoàn, đoàn thể Hệ thống tổ chức Đảng của Viện gồm 5 tổ chức trực thuộc (Đảng Bộ Viện DTNN, Viện Rau Quả, Viện CLT-CTP cơ sở II, Văn phòng VAAS và chi bộ TT Tài nguyên thực vật) với tổng số 270 Đảng viên. Đảng bộ Viện và các tổ chức trực thuộc đã hoàn thành Đại hội nhiệm kỳ 2007-2011. Đảng bộ đã làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho Đảng viên và CBVC, công tác qui hoạch và bổ nhiệm cán bộ, đã chỉ đạo cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia thi kể chuyện về tấm gương của Bác tại cả 3 cấp: Đảng bộ đơn vị, Đảng Bộ VAAS và Đảng Bộ Cơ quan Bộ. Qua 2 năm Đảng bộ đã kết nạp thêm được 12 Đảng viên mới hiện đang bồi dưỡng và làm thủ tục chuẩn bị kết nạp cho 20 quần chúng tích cực. Do đặc thù Đảng bộ không quản lý toàn bộ các tổ chức Đảng theo Chính quyền và mô hình Công đoàn nên Đảng Bộ chủ trương làm việc với các tổ chức Đảng địa phương để phối hợp lãnh đạo. Các cấp uỷ Đảng ngoài Đảng bộ VAAS được mời tham dự mọi hoạt động của Đảng bộ. Về Công đoàn, Đoàn thanh niên đã tổ chức Đại hội xây dựng nhiệm vụ hoạt động, kiện toàn tổ chức, các tổ chức chính trị xã hội như ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội cựu chiến binh... Câu lạc bộ khoa học nữ của Viện KHNN VN cũng được thành lập. Các tổ chức Công đoàn và Đoàn TN và các tổ chức chính trị xã hội trong Viện đã thực sự phát huy vai trò trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thi đua khen thưởng động viên, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán bộ viên chức, năm 2006- 2007 đã tổ chức được nhiều hoạt động phong trào như: vận động đoàn viên tích cực tham gia các hoạt động xã hội; tổ chức thi đấu thể thao giữa các đơn vị nhân dịp kỷ niệm ngày 26/3, tham gia giải thi đấu thể thao của Công đoàn NN và PTNT, tổ chức đoàn tham gia hội thi ATGT, hội thi tuyên truyền viên giỏi kiến thức giới... của Ngành NN PT NT tổ chức; tổ chức cho cán bộ tham quan nghỉ mát... Nhân dịp ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/2007) Công đoàn và Đoàn TN đã tổ chức Hội giao lưu nữ CNVC và Hội diễn văn nghệ quần chúng VAAS, Hội thi nấu ăn “Bếp ăn điểm 10 chất lượng lần thứ nhất thu hút trên 400 CBVC tham gia, qua hội thi đã tăng cường giao lưu đoàn kết trong toàn Viện. Về Thực hiện Luật phòng chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí: Viện đã xây dựng Chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong 2 năm 2006-2007 tổng kinh phí tiết kiệm được là 1,13 tỉ đồng, trong đó từ chi thường xuyên 915 triệu đồng. Kế hoạch hoạt động năm 2008 Năm 2008 và thời gian tiếp theo Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam tập trung công tác chỉ đạo điều hành vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây: Tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện triển khai các đề tài, dự án đang triển khai chuyển tiếp từ năm 2007 đảm bảo đúng yêu cầu chất lượng và tiến độ. Đối với đề tài, dự án nghiên cứu xây dựng năm 2008 cần tập trung ưu tiên cho các hướng để cụ thể hoá được các định hướng trong chiến lược Khoa học công nghệ của VAAS trình Bộ phê duyệt, cụ thể là: Đẩy mạnh nghiên cứu sử dụng ưu thế lai trong chọn, tạo giống cây trồng, coi đây là hướng đột phá để nâng cao năng suất sinh học và chất lượng nông sản. Ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học mà trước hết là công nghệ gen, công nghệ tái tổ hợp ADN, chỉ thị phân tử ...trong mối quan hệ hài hoà với công nghệ truyền thống để phục vụ công tác chọn tạo giống mới. Đánh giá và khai thác hiệu quả tài nguyên di truyền và kiến thức bản địa. Đẩy mạnh nhập nội nguồn gen từ nước ngoài nhằm tạo ra nguồn vật liệu di truyền phong phú để tạo giống có nhiều đặc tính di truyền tốt. Ngoài ra, cần phát hiện, thu thập, đánh giá và chọn lọc các giống, kỹ thuật mới do nông dân phát triển vì đây là nguồn tiến bộ kỹ thuật quan trọng. Tập trung nghiên cứu kỹ thuật quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) nhằm phát huy tiềm năng giống, điều kiện sinh thái, trong đó đặc biệt ưu tiên biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư, tiết kiệm nước (kể cả đối với lúa nước), giảm chi phí lao động trên và giảm tổn thất sau thu hoạch để vừa nâng cao hiệu quả vừa bảo vệ môi trường. Nghiên cứu thực hành nông nghiệp tốt (GAP) để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm. Ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám và GIS để nghiên cứu dự báo và phát hiện các dịch bệnh mới và đề xuất giải pháp xử lý kịp thời. Nghiên cứu sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp hiện có thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tăng vụ một cách phù hợp; đồng thời nghiên cứu cơ sở khoa học để khai thác vùng đất hoang hoá duyên hải miền Trung theo hướng nông, lâm nghiệp và chăn nuôi, nông nghiệp sinh thái. Phát triển nguồn thức ăn chăn nuôi trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất cũng là một hướng đi để nâng cao tỉ trọng chăn nuôi. Nghiên cứu giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó đặc biệt quan tâm đến giảm thải khí nhà kính trong sản xuất lúa, đến đa dạng sinh học nông nghiệp, chọn tạo giống chịu hạn cho vùng cao, chịu mặn, úng cho vùng thấp và dự báo, mô phỏng dự báo nhiễm mặn đất nông nghiệp khi nước biển dâng cao. Tiến hành nghiên và phát triển cây nguyên liệu sản xuất dầu Diezen sinh học . Nghiên cứu cơ sở khoa học và mô hình nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, đảm bảo về kỹ thuật phải phù hợp trình độ lao động và khả năng đầu tư; về hiệu quả phải đảm bảo có sức cạnh tranh cao. Phối hợp nghiên cứu giảm tổn thất sau thu hoạch, công nghệ bảo quản nhất là với rau và quả; công nghệ tưới tiết kiệm và công nghệ giữ ẩm. Nghiên cứu xử lý phế thải bằng công nghệ vi sinh vật, sản xuất thuốc BVTV sinh học, thuốc có nguồn gốc thảo mộc; nghiên cứu sử dụng thiên địch, phân vi sinh vật chức năng. Nghiên cứu sử dụng hiệu quả phế phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất thực phẩm (nấm), thức ăn chăn nuôi và phân bón hữu cơ. Phối hợp nghiên cứu mô hình tổ chức và xu thế phát triển của nông hộ, các loại hình liên kết; chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Nhằm định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, tập trung nghiên cứu lợi thế so sánh của các ngành hàng chính trong mối quan hệ với các nước xuất khẩu có chung mặt hàng với Việt Nam và ảnh hưởng của hội nhập đến nông nghiệp. Viện sẽ chủ động phối hợp chặt chẽ với hệ thống khuyến nông để chuyển giao nhanh hơn kết quả nghiên cứu vào sản xuất và còn tạo điều kiện tiếp thu nhu cầu của thực tiễn nhằm điều chỉnh kế hoạch nghiên cứu phù hợp. Tại các Viện Vùng, sẽ xây dựng khu trình diễn kỹ thuật mới để sản xuất lựa chọn. Hợp tác quốc tế: Hợp tác Quốc tế sẽ vẫn là giải pháp hiệu quả trong tiếp cận công nghệ mới, do vậy Viện tập trung nhiều hơn cho HTQT. Trước mắt tổ chức thực hiện tốt các Dự án hiện có, tăng cường ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác mới và phát triển các dự án mới. Viện cũng sẽ mời thêm chuyên gia nước ngoài, việt kiều cộng tác với Viện. Trong vấn đề này sự trợ giúp của Bộ NN-PTNT (Vụ HTQT, KHCN....) và Vụ HTQT (Bộ KHCN) có ý nghĩa rất quan trọng. Tổ chức, cán bộ: Chủ động thực hiện sự chỉ đạo của Bộ tại thông báo số 3038/TB-BNN-TCCB ngày 2/11/2007 về việc triển khai xây dựng đề án thực hiện Quyết định 930/2005/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ. Hoàn thiện phê duyệt đề án chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các Trung tâm thuộc các đơn vị trực thuộc. Tiếp tục sắp xếp lại các bộ phận chồng chéo để tinh, gọn bộ máy nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng hiện có cho nghiên cứu, chuyển giao, kinh doanh, dịch vụ. Tăng cường công tác cải cách hành chính thông qua việc xây dựng và ban hành các qui chế để thể chế hoá các qui định của Nhà nước và của Bộ NN và PTNT: trong công tác Tổ chức CB, Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Tài chính, Đào tạo và Thông tin... Nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả nghiên cứu, do vậy Viện sẽ tập trung đào tạo thông qua thực hiện đề tài, dự án, nhất là các dự án hợp tác quốc tế. Trong đào tạo sau đại học, gắn đào tạo với nghiên cứu. Kết hợp chặt chẽ với các trường Đại học để triển khai nghiên cứu và đào tạo nguồn lực theo hướng kiêm nhiệm. Công tác XDCB, hoàn thiện thủ tục để phê duyệt các dự án còn lại thuộc vốn vay ADB, tập trung cho qui hoạch tốt. Mọi đơn vị, lãnh đạo phải coi đây là cơ hội có một không hai để quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách hiệu quả nhất. Công tác tài chính Chỉ đạo thanh quyết toán năm 2007. Tổ chức duyệt dự toán, giao kinh phí 2008 không chậm hơn 20007. Tổng kiểm kê tài sản cố định để tiếp tục điều chuyển và thanh lý. Chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh đảm bảo hoàn thành, vượt chỉ tiêu. Phối hợp với Ban TC-HC-XDCB để giải ngân đúng hạn các Dự án đầu tư XDCB. Phối hợp với Ban Khoa học và HTQT để quản lý tốt tài chính từ các nguồn vốn khác nhau. Công tác Thông tin, xuất bản Biên tập, xuất bản tạp chí, xây dựng phim giới thiệu Viện, xây dựng website tiếng anh, thư viện điện tử tiếp tục tăng cường phối hợp với các đơn vị tham gia tích cực hơn nữa triển lãm của Bộ, ngành và địa phương. Tăng cường phối hợp với Báo Nông nghiệp VN và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc đưa tin các hoạt động, phổ biến tiến bộ kỹ thuật của Viện tới sản xuất... Về đào tạo SĐH, tăng cường chất lượng đào tạo thông qua việc hoàn chỉnh lại ngân hàng giảng viên, phương pháp giảng dạy, Hội đồng chấm chuyên đề và luận án; kết hợp với nghiên cứu của Viện, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.
 
Các tin tức khác [Quay về] 
 
     Hội nghị Tổng kết công tác năm 2018 và triển khai kế hoạch năm 2019 của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam    (17/01/2019 | 4764)
     Lễ Công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Viện trưởng – Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố.    (18/05/2018 | 1463)
     Gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Mậu Tuất 2018    (06/02/2018 | 1320)
     Hội nghị tổng kết công tác năm 2017 và kế hoạch triển khai công tác năm 2018    (06/01/2018 | 1273)
     Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Giám Đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam    (24/10/2017 | 2440)


  :: TIN MỚI NHẤT
Tám tấn xoài đầu tiên của Việt Nam sẽ được xuất sang Mỹ
Chương trình mỗi xã một sản phẩm đóng góp quan trọng tái cơ cấu nông nghiệp
Nghiên cứu làm sáng tỏ bệnh hại nguy hiểm ở hoa hồng
Đoàn Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc thăm và làm việc với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
Bến Tre: Giảm 30% lượng phân bón nhờ mô hình tưới tiết kiệm tích hợp thiết bị hút phân tự động

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Điều khiển sự ra hoa của cây Thanh Long
Mộc Châu sản xuất các loại nông sản có giá trị hàng hóa cao
Sai lầm nguy hiểm thường gặp khi cầm vô lăng ô tô
Một số hình ảnh bệnh hại sắn ở Hà Tĩnh năm 2019
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Nguyễn Hồng Sơn

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 84.24.38615487;  Fax: 84.24.38613937.